Chân Dung Người Phục Vụ Số 1553: Ông Bà Giáo Sĩ William Charles Cadman

Đăng ngày: 13-09-2015

1553nho

PTV: Dạ Uyên


Ông Bà Giáo Sĩ William Charles Cadman

Giáo sĩ William Charles Cadman sinh ngày 04 tháng 04 năm 1883 tại Rotherhithe, một vùng ngoại ô phía nam Luân Ðôn, thủ đô nước Anh. Ông lớn lên trong một gia đình ngoại đạo, sống đời bình dị của một thanh niên trước sự thay đổi sâu rộng của cuộc cách mạng kỹ nghệ đầu thế kỷ 20. Rồi ông chọn học ngành in ấn để làm kế sinh nhai. Ông trở thành chủ nhà in chuyên nghiệp, cũng là nhà doanh nghiệp (và sau này được giao công việc điều khiển  nhà xuất bản của Hội Truyền giáo).

Một sự thay đổi có tính bước ngoặc trong cuộc đời ông là vào năm 1904, ông được Chúa Thánh Linh cáo trách tội lỗi của mình và tin nhận cùng Chúa. Một thời gian ngắn sau, Chúa kêu gọi ông bằng một khải tượng về vô số linh hồn đồng loại đang hư mất chung quanh. Và ông quyết định rời gia đình, dâng mình xuất dương du học tại trường Kinh Thánh ở Toronto, Canada, chịu huấn luyện để chuẩn bị cho chức vụ tương lai. Sau đó ông tiếp tục sang Hoa Kỳ học tại Viện Ðào tạo Giáo sĩ (Missionary Training Institude) ở Nyack, New York, dưới chân Tiến sĩ A.B. Simpson, người sáng lập Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp với chủ trương nỗ lực đem Tin Lành đến những xứ xa chưa tìm thấy ánh sáng cứu rỗi.

Ba năm sau, vào tháng 9 năm 1910, ông tốt nghiệp và được Hội Truyền giáo chỉ định cộng tác với giáo sĩ R.A. Jaffrey phục vụ 4 năm tại Trung Hoa để mang Tin Lành đến cho người Quảng Ðông. Vào thời điểm nầy, tiến sĩ A.B. Simpson đã đặt mục tiêu ưu tiên hàng đầu cho Việt Nam, Tây Tạng và Sudan.

Mùa xuân năm 1911, các giáo sĩ R.A. Jaffrey, Paul M. Hosler và G. Lloyd Huglers đến hải cảng Tourane, trung phần Việt Nam, mở màn cho việc rao giảng đạo Chúa ở các quốc gia nhỏ bé vùng Ðông Nam Á. Ðây là lần đầu tiên Tin Lành đến với hằng trăm ngàn dân Việt từ Bắc chí Nam.

Trong bối cảnh đó, năm 1914, Chúa đã gọi ông W.C. Cadman và ông vâng lệnh Ngài lên đường đến Việt Nam phục vụ. Tại đây ông gặp người bạn đồng tâm chí là cô Grace Hazenberg. Hai người làm lễ thành hôn vào ngày 27 tháng 7 năm 1915, tại Vân Nam, Trung Hoa.

Bà giáo sĩ Cadman, nhũ danh Grace Hazenberg, sinh ngày 27 tháng 9 năm 1876 tại Fulton, một làng nhỏ thuộc tiểu bang Illinois, nằm trên bờ sông Mississippi, giáp ranh với Iowa, về phía bắc thành phố Davenport. Lúc nhỏ, bà theo gia đình đi truyền giáo ở Nam Phi cho người Afrikaners, ngày xưa gọi là người Boers. Bà đi học ở Nam Phi và đậu bằng Cử nhân. Chúa muốn dọn đường cho công việc truyền giáo của bà qua sự huấn luyện và học tập nên đã gọi bà về Toronto, Canada để học tiếp và tốt nghiệp bậc cao học chuyên ngành nghiên cứu tiếng Hi-lạp và tiếng Hi-bá-lai, mở đường cho bà dấn thân vào việc phiên dịch Kinh Thánh sau này.

Năm 1913, bà là một trong 6 người đầu tiên được Ban Chấp hành Hội Truyền giáo ở New York cử đến Tourane (Ðà Nẵng). Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914, bà là người duy nhất ở lại để tiếp tục duy trì và phát triển cơ sở truyền giáo mới nầy. Ðây là giai đoạn đầy cam go và thử thách. Hầu hết các giáo sĩ đều phải rời Việt Nam vì chính quyền không cho phép họ rao giảng đạo Chúa. Người dạy Việt ngữ cho bà lúc này là bà Võ Thị Thu, một phụ nữ quyền quý trong giới Nho học, về sau đã tin nhận Chúa.

Sau khi thành hôn tại Trung Hoa, ông bà giáo sĩ Cadman trở lại Việt Nam và ở lại đây gần một năm. Tình hình chuyển biến mỗi ngày một khó khăn thêm, nên ông bà phải tạm lánh sang Trung Quốc vài tháng.

Cuối năm 1916, ông bà Cadman trở lại Việt Nam. Trong thời gian ngắn lưu tại Tourane (Đà Nẵng), ông bà mua cơ sở, thiết lập địa điểm truyền giáo đầu tiên tại vùng Ðông Nam Á. Ban đầu, ông đi lại bằng xe đạp, sau đó bằng ô tô để phát sách Tin Lành, làm chứng và giảng dạy về sự cứu rỗi và tình yêu thương vô điều kiện của Ðức Chúa Trời ở Hội An, kinh thành Huế, rồi đến Hà Nội khi gia đình ông chuyển ra Hà Nội năm 1917.

Ở Hà Nội, ông thuê nhà để ở và giảng Tin Lành. Lúc đầu ở phố Hàng Đào, sau chuyển qua phố Cầu Gỗ. Sau ít lâu, ông bà mua nhà để làm nơi trú ngụ, xây dựng nhà thờ (ngày nay là khuôn viên nhà thờ Hội thánh Tin Lành Hà Nội) và một năm sau lập cơ sở ấn loát văn phẩm Tin lành (năm 1920).

Hoạt động truyền giáo lúc đầu rất khó khăn, gặp nhiều trở ngại từ chính quyền Pháp lẫn Việt, từ địa phương đến trung ương. Thực dân Pháp rất ghét ông vì ông rất yêu mến người Việt Nam nên có lần họ đã viết bài đả kích ông trên báo chí. Nhưng hột giống do ông bà gieo đã sớm ươm mầm, kết quả. Chính nhờ công khó của ông bà mà Hội Thánh Hà Nội đã trở thành một Hội thánh vững mạnh nhất trong cả vùng Ðông Nam Á lúc bấy giờ. Từ cơ sở nầy, nhiều Hội nhánh lần lượt được mở ra tại các thành phố chính ở miền Bắc. Mục sư Lê Văn Thái là vị mục sư người Việt Nam đầu tiên của Hội Thánh Hà Nội trở thành một cộng sự lâu dài, một người bạn và sau này là Hội trưởng thứ năm của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.

Ông bà Cadman có một người con gái là Agnes, sinh tại Vân Nam vào năm 1916. Agnes bị vướng bệnh sốt bại liệt khi ông bà về Canada nghỉ phép dài hạn lần đầu tiên, được Chúa chữa lành nhưng hãy còn yếu. Năm 1922, Agnes Cadman về nước Chúa và được an táng tại nghĩa trang thành phố Hà Nội khi mới được 6 tuổi.

Dù bị bắt bớ và thử thách nhưng ông bà William Charles Cadman vẫn hết lòng thương yêu linh hồn tội nhân, năng nổ cộng tác với các giáo sĩ và Mục sư Truyền đạo người Việt, đổ nhiều mồ hôi và nước mắt để Tin Lành của Chúa có thể đến được tận những thôn làng hẻo lánh xa xôi ngoài Hà Nội như Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Đông, Sơn Tây, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình,… Bàn chân của người truyền đạo ngày đêm không mệt mỏi đã in dấu khắp đất nước Việt Nam hình chữ S qua hình ảnh một đôi vợ chồng đầy tình yêu thương, tinh thần tận tụy, trang phục đơn sơ, ăn uống kham khổ, đi trên chiếc xe hơi cũ kỹ, ngủ trên các băng ghế nhà thờ. Tình trạng vật chất thiếu thốn nhưng dường như đã được tình yêu chan chứa dành cho người Việt che lấp, khiến ông bà không còn thời gian nghĩ đến những khó khăn mà chỉ biết quên mình, khiêm nhường phục vụ. Mục sư Trần Văn Đệ kể lại rằng khi ông đi cùng giáo sĩ Cadman đến thăm nhà cầm quyền Pháp tại Hà Nội. Người Pháp đó chỉ chiếc ghế duy nhất trong phòng làm việc mời giáo sĩ Cadman ngồi mà không chú ý gì đến Mục sư Đệ. Giáo sĩ Cadman nhấc chiếc ghế mời Mục sư Đệ ngồi, còn ông thì đứng một bên. Hành động tôn trọng người khác hơn mình đó khiến người Pháp vội cho người đem thêm chiếc ghế thứ hai để giáo sĩ ngồi.

 

Năm 1928, nhà nước thuộc địa Pháp và triều đình Huế ra lệnh cấm các tôn giáo ngoài Công giáo. Tin Lành bị bắt bớ. Ông bà Cadman bị giữ hộ chiếu vì vi phạm luật, cùng lúc đó Mục sư Phan Ðình Liệu bị bắt giam vì giảng đạo. Hai tháng sau, vào tháng 3 năm 1928, quan toàn quyền miền Bắc gởi cho giáo sĩ Cadman thông tư như sau: “Tôi được biết Hội Truyền bá Phúc Âm Liên hiệp bổ nhiệm ông trong chức vụ truyền giáo ở nhiều thị trấn miền Bắc và nhất là ở Nam Ðịnh. Trái với tinh thần hòa ước năm 1874 và năm 1884 giữa chánh phủ Pháp và Hoàng Ðế nước Việt Nam, tôi có nhiệm vụ khuyên ông nên sớm chấm dứt sự giảng đạo của ông.”

Noi gương tinh thần của Phi-e-rơ và các sứ đồ “Thà phải vâng lời Ðức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” (Công vụ 5:29), hai ông bà vẫn cương quyết bám trụ vào đất Việt với mong ước cứu thêm người cho Chúa.

 

Thành quả đáng trân trọng nhất của ông bà là việc dịch toàn bộ quyển Kinh Thánh ra tiếng Việt. Trong đó bà là người đóng vai trò trọng yếu. Cho đến nay, dù Kinh Thánh tiếng Việt đã có nhiều bản dịch nhưng bản Kinh Thánh mà hầu hết các tín hữu Tin Lành Việt Nam sử dụng trong vòng mấy mươi năm qua, kể từ lần xuất bản đầu tiên, chính là bản mà vợ chồng giáo sĩ Cadman đã khởi xướng. Mặc dù hầu việc Chúa trong giai đoạn chưa có Kinh thánh trọn bộ bằng tiếng Việt và chữ Nôm đang được nhiều người có trình độ sử dụng nhưng ông bà giáo sĩ William C. Cadman đã quyết định cho dịch các sách Phúc âm ra quốc ngữ trước tiên, kế đến là sách Công vụ rồi đến thơ tín Rôma, … Công việc dịch thuật bắt đầu từ năm 1914, bị tạm ngưng một thời gian do hoàn cảnh khách quan và được khởi sự lại vào năm 1919 với sự cộng tác đắc lực của các thành viên trong ban phiên dịch gồm có:

  1. Giáo sĩ William C. Cadman (Trưởng ban)
  2. Bà William C. Cadman
  3. Giáo sĩ John Drange Olsen
  4. Ông Trần Văn Dõng (sinh viên trường Cao Ðẳng Ðông Dương)
  5. Ông Nguyễn Hữu Phúc
  6. Ông Phan Khôi (học giả, văn sĩ lỗi lạc, thông thạo chữ Hán, chữ Nôm, chữ Pháp và Quốc ngữ; ông yêu chữ quốc ngữ, và từng trải quen thuộc với những lỗi phát âm, thổ ngữ của từng vùng ).
  7. Người đọc lại sau cùng là Hoa Bằng Hòa Thúc Trâm, một học giả từng làm từ điển.

Tận tụy làm việc trong suốt 10 năm, quyển Kinh Thánh Tân Ước được hoàn thành vào năm 1922 và được in ở Thượng Hải vào năm 1924.

Đến năm 1926, hai ông bà rất vui mừng khi thấy bản Kinh Thánh toàn bộ bằng tiếng Việt lần đầu tiên được xuất bản và phát hành rộng rãi để mọi người Việt Nam được đọc lời Đức Chúa Trời bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Cũng nên biết, dù chữ quốc ngữ đã được chính phủ chính thức thừa nhận vào cuối thập niên 1910 để thay thế chữ Nôm nhưng trong giai đoạn chuyển tiếp nầy vẫn còn rất mới mẻ. Ngay từ ban đầu, chữ quốc ngữ đã được nhiều người ưa thích và dần trở nên rất thông dụng vì dễ đọc, dễ học, dễ nhớ, dễ in, dễ viết, ít bị câu thúc trong tư tưởng và dễ giao tiếp với các trào lưu văn minh khác. Năm 1922, giáo sĩ Cadman là giám đốc nhà in báo cáo: “Sự bán các phần Kinh Thánh, sách và truyền đạo đơn rất chạy, đến nỗi nhà in khó mà in kịp các sách tái bản. Tổng số sản xuất là 127.807 ấn bản, gồm 3.197.300 trang trong năm 1922… đến năm 1927 lên đến 5 triệu trang”.

Chưa có bình luận nào cho bài viết này!