Chân Dung Người Phục Vụ Số 1555: Mục Sư Phạm Văn Năm (Phần 2)

Đăng ngày: 27-09-2015

CDNPV 1555c

PTV: Dạ Uyên


Mục Sư Phạm Văn Năm (Phần 2)

“… Mỗi khi nhắc đến Hội đồng Truyền giáo lòng chúng tôi bồi hồi xúc động, bởi vì mỗi lần họp lại thì tất cả đại biểu của các sắc tộc từ các hạt về họp. Vì thế mỗi khi giảng hay thảo luận đều phải dùng 3 thứ tiếng; nào tiếng Kơho, Rađê, Jơrai; đó là 3 sắc tộc lớn nhứt trên miền Cao Nguyên. Còn các sắc tộc khác thì những vị Truyền Giáo của họ sẽ ngồi gần họ để thông dịch cho họ. Những sắc tộc lớn thì phải có 3 người thông dịch. Cho nên giảng bài giảng nửa giờ thành ra 1 giờ rưỡi, nếu cứ thông dịch từng chi phái thì không đủ thì giờ! Nào chi phái Xơrê, chi phái M’nông, chi phái Rơglai, Mạ, v.v…

Phần chúng tôi ở Ðà Lạt hiệp với 2 cụ Jackson hầu việc Chúa. Mùa nắng thì vào các làng thăm viếng giảng bồi linh. Mùa mưa thì dạy tại Trường Kinh Thánh; anh em Truyền Ðạo Thượng từ trong làng ra học. Vì những anh em nầy từ trong rừng ra, từ trước đến giờ chưa biết chữ. Các vị Truyền giáo và Giáo sĩ phải dạy họ đọc và viết chữ nên họ học rất chậm; có người học xong chương trình Thần đạo được tốt nghiệp, thời-gian phải 20 năm! Họ chỉ ra trường học vài tháng rồi về làng giảng dạy, mãn 2 tháng họ lại ra học nữa. Họ học rất ít vì học nhiều họ không nhớ hết. Chúng tôi phải kiên nhẫn để dạy họ. Sau 20 năm thì có 10 người tốt nghiệp. Cũng có lớp trẻ tiếp nối. Lớp sau nầy học khá hơn vì họ đã học chữ nơi các trường công lập cũng như tại sở truyền giáo. Tại sở truyền giáo có mở lớp dạy văn hóa cho các thanh niên. Hiệu trưởng đầu tiên là cô Nguyễn thị Bảy, giáo viên là bà Nguyễn Hữu Tâm và Cô Ðào thị Phước Ðức, dạy tiếng Việt cho các em thanh thiếu niên Thượng. Về sau có mở thêm trường Thực Nghiệp, Chẩn Y Viện tại Sở Truyền giáo. Lúc nầy số các Hội Thánh trong những làng xa được thành lập khá nhiều. Phong trào dạy chữ cho tín hữu trong làng được các vị truyền đạo hưởng ứng nhiệt liệt. Vì thế nên bà cụ Giáo sĩ Jackson cổ động tiền mua bảng đen, phấn viết để các vị truyền đạo mỗi tối dạy chữ cho tín hữu. Mỗi Hội Thánh đều nhứt tề làm việc ấy cách hăng say. Ðồng thời chúng tôi cũng xúc tiến việc dịch toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước ra tiếng Thượng, nhưng nếu họ không biết đọc chữ thì dịch ra để làm gì? Từ đó các vị chủ tọa Hội Thánh đều nỗ lực dạy chữ cho tín hữu. Không bao lâu những người trong làng đều biết đọc, biết viết tiếng thượng theo thổ ngữ của họ mà các vị Giáo sĩ cũng như Mục sư Nguyễn văn Tầm và chúng tôi đã hiệp nhau đặt chữ cho họ từ trước….

Việc phiên dịch Kinh Thánh Tân Ước thì ủy ban họp lại chia ra cho các vị Truyền Giáo thuộc sắc tộc Kơho mỗi người vài quyển để dịch. Dịch xong thì có ủy ban duyệt xét lại. Cụ Jackson xem lại trong bản Kinh Thánh tiếng Hy Lạp, cũng có vài vị Mục sư Thượng trong Ban, vài người Mỹ như cô Evans, cụ Jackson, phía Việt Nam thì có Mục sư Truyền giáo Trương văn Tốt và tôi, bên người Thượng thì có ông Ha Sol , K’Sach, Ha Klas A. v.v… Sự phân chia để dịch như sau đây: Mục sư Trương văn Tốt dịch sánh Ma-thi-ơ, bà Tốt dịch thơ Phi-líp, Mục sư Chung Khâm Lộc dịch sách Mác, cô Evans dịch sách Lu-ca, Mục sư Năm dịch thơ Hê-bơ-rơ và Khải Thị, bà Năm dịch 2 thơ Phi-e-rơ, sách Giăng thì cụ Jackson và Mục sư Nguyễn văn Tầm đã dịch xong mấy năm trước nay chỉ cần duyệt lại thôi. Còn những sách khác không biết ai dịch tôi không nhớ hết. Sau khi hoàn tất, các sách đã duyệt xong, cụ Jackson cổ động Thánh Kinh Hội cho in ra 5 ngàn quyển. (đến năm 1973 thì làm lễ cung hiến tại Trường Kinh Thánh Ðà Lạt. Mục sư Hội Trưởng Ðoàn văn Miêng làm lễ cung hiến quyển Kinh Thánh tiếng Thượng đầu tiên). Các con cái Chúa vui mừng vô hạn. Họ mua và ngồi nơi hiên nhà thờ đọc ngay!

Các vị Truyền giáo trên Ban Mê Thuột, Pleiku cũng ráo riết dịch Kinh Thánh Tân Ước trong tiếng Ra-đê và Jơrai. In cũng rất đẹp. Ủy ban cũng yêu cầu dịch quyển Thánh Ca ít nhứt phải có 250 bài. Trước kia chỉ có vài chục bài ngắn mà thôi. Thánh Ca chia ra mỗi vị Truyền giáo dịch 50 bài. Phần chúng tôi dịch 100 bài đầu của quyển Thánh Ca tiếng Việt. Chúng tôi cũng soạn bài học về cuộc đời Chúa Cứu Thế, có hình ảnh cho họ dễ hiểu, gởi vào trong làng cho con cái Chúa đọc. Họ rất thích.

Năm 1952 Hội Truyền Giáo cất cho chúng tôi một cái nhà 2 tầng, bằng gỗ, lợp tôle, có 4 phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn và nhà bếp, gần bên nhà Giáo sĩ Jackson. Chúng tôi ra khỏi chuồng ngựa, dọn lên nhà mới. Có lần bà Mục sư Lộc lên thăm chúng tôi, bà nghe nói nơi chúng tôi ở trước kia là cái chuồng ngựa; bà liền nói chơi một câu khiến bà Mục sư Tín cười lộn ruột. Bà Lộc nói: “Vậy thì anh chị được giáng sanh trong chuồng ngựa rồi còn gì nữa!” Chúng tôi lên ở nhà mới, còn chuồng ngựa thì cho nhân viên nhà in ở. Nhà in từ Hà Nội cũng thiên di vào Ðà Lạt năm 1954. Cụ Jean Funé là Giáo sĩ người Pháp, lấy vợ người Ca-na-đa. Cụ làm quản lý nhà in…Cụ Funé có tiếng là khó; thế nhưng đối với việc Chúa có cần thì cụ sẵn sàng giúp đỡ. Có mấy lần nhà tôi cần đi hầu việc Chúa trong rừng độ một tuần lễ mà không ai trông coi mấy con tôi. Cụ liền cho một cô làm việc tại nhà in đến ở nhà chúng tôi lo cơm nước và săn sóc các con tôi, cụ vẫn trả lương cho họ như họ làm cho nhà in. Nhờ đó chúng tôi được đi vào các làng cách tự do, dễ dàng trong sự hầu việc Chúa. Có lần kia chúng tôi phải đi thăm một Hội Thánh mới nơi làng Ðạ Tơrbor, vì anh em Thượng vừa làm xong con đường tắt từ trên chót núi Hòn giàu để chúng tôi đi ngang qua chót núi mà không phải ngủ đêm giữa rừng. Chính ông Mục sư Ha Sáu A, đã cổ võ anh em trong các Hội Thánh vùng đó lo mở con đường nầy. Họ phải vận động mấy trăm người, đốn cây, cuốc đất, làm rào hai bên, làm những nất thang từ dưới chơn núi lên đến đỉnh và từ đỉnh xuống rất an toàn. Tính ra họ phải tốn đến 4 ngàn công để hoàn tất con đường tắt nầy! Khi chúng tôi đi con đường ấy mới thấy công-phu của anh em con cái Chúa thật là lớn…

Vòng truyền giáo nầy có ông Giáo sĩ Mangham từ Pleiku xuống tháp tùng đi nữa. Ông có đem theo máy quay phim, ông quay rất nhiều. Có cụ Funé, cô Giáo sĩ Bowen, cô Evans, cô Holyday, Truyền giáo Trần văn Sang và chúng tôi cùng các anh em Thượng dẫn đường, tất cả hơn 30 người! Sáng sớm chúng tôi dậy lo chất đồ đạc vào gùi cho người thượng mang đi. Từ sở truyền giáo chúng tôi đi xe hơi chừng 10 cây số thì hết đường xe nên bắt đầu đi bộ. Chúng tôi phải đi bộ 2 ngày rưỡi mới đến làng Ðạ Blah, là làng quê hương của Mục sư Hà Sáu A. Một đoàn người đông như vậy mà chỉ có 2 con ngựa thôi. Vì vậy nên họ nhường cho những người yếu như nhà tôi và các cô Giáo sĩ thì được cỡi ngựa, còn chúng tôi là nam giới thì đi bộ. Thỉnh thoảng nhà tôi cũng nhường ngựa của nhà tôi cho tôi cỡi khi đi đường bằng phẳng, còn lên dốc thì nhà tôi phải đi ngựa. Chúng tôi đi rừng lúc nầy là mùa nắng, nhưng khi gần đến làng thì trời đổ mưa. Chúng tôi không chuẩn bị áo mưa nên tất cả đều ướt hết, phần đi trong rừng có những cây cối rậm rạp, đang trưa mà khi vào trong rừng thì cũng tối om, huống chi là trời mưa thì càng tối hơn nữa! Ðường đi trơn trợt, lên dốc xuống đèo, lại thêm những con vắt gặp trời mưa thì tha hồ bò ra đeo vào chúng tôi, chúng tôi vừa đi vừa gỡ những con vắt bám vào quần áo, nếu không gở ra nó sẽ bò vào mình hút máu. Các cô Giáo sĩ sợ vắt lắm, họ cứ dòm tới, dòm lui, ngó qua, ngó lại để tránh vắt! Dầu mưa chúng tôi vẫn không dám ngừng lại, cứ đi tới. Nhưng khi lên một giốc cao kia mà trời lại mưa to hơn, không thể nào leo giốc được, cả đoàn đành ngồi lại nghỉ chân một chút, phần đói, phần mệt vì từ sáng đến giờ chưa ăn gì, mưa quá không thể mở thức ăn ra ăn. Ai nấy đều đói bụng lắm. Chúng tôi ngồi gần với nhau rồi lấy lá chuối rừng che lên đầu cho đỡ mưa. Chừng 2 giờ sau, bớt mưa chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Vào đến làng là hơn 7 giờ tối. Con cái Chúa trông đợi chúng tôi, và họ cầu nguyện cho chúng tôi quá chừng. Họ lo sợ không biết có gì rủi ro xảy đến cho chúng tôi không, nhứt là trời đổ mưa bất thường như vậy.

Chúng tôi ở lại đây hầu việc Chúa 2 ngày, 2 đêm. Hội Thánh đây lớn và đông người. Chúa ban phước nhiều. Ðêm đầu tiên cụ Jackson mời nhà tôi giảng cho Hội Thánh Ðạ Blah. Có hơn 200 người nhóm lại. Chúa ban ơn cho nhà tôi dầu mệt nhưng hễ có dịp tiện hầu việc Chúa thì bà không từ chối. Nhà tôi giảng về: “Sự đoán xét của Ðức Chúa Trời”. Khi giảng xong mọi người đều đứng lên cầu nguyện, khóc lóc rất nhiều. Họ leo lên tòa giảng quỳ xung quanh để cầu nguyện, từ già đến trẻ ai nấy đều ăn năn tội lỗi mình vì nếu Chúa đến hôm nay, hoặc họ qua đời chắc sẽ bị Chúa đoán xét, và bị Ngài hình phạt. Họ cầu nguyện như vậy hơn 1 tiếng đồng hồ. Vì Thánh Linh đang làm việc nên chúng tôi không dám bảo họ ngưng. Khi tiếng nức nở chấm dứt, lúc bấy giờ cụ Giáo sĩ Jackson liền mời ai muốn lên để cụ cầu nguyện cho thì tất cả đều chen nhau bước lên tòa giảng, chật cả trên cả dưới vì không đủ chỗ.

Sau khi hầu việc Chúa ở Ðạ Blah xong, đoàn chúng tôi lên đường đến làng Ðạ Ka (có nghĩa là nước mắm). Hội Thánh nầy thuộc sắc tộc Tring. Nơi đây ông bà Mục sư Hà Kar là người đầu tiên đến hầu việc Chúa. Ðường đi vào làng nầy khó và nguy hiểm. Phải leo lên chót núi bằng thang dây mây. Ông bà Mục sư Hà Kar khi mới vào đây lần đầu tiên đã phải khóc vì đường đi quá khó khăn. Ông Mục sư Hà Kar phải mang gùi và đeo 2 đứa con, bà Ha Kar cũng mang gùi, mang một đứa con nhỏ. Thật tội nghiệp! Ông bà biết chi phái nầy ở rất xa, nhưng ông bà tình nguyện muốn đến đó truyền rao Tin Lành cho họ. Kết quả rất đáng khích lệ; có hơn 300 người tin nhận Chúa tại làng nầy! Sau nầy họ làm một con đường mới gần dưới chơn núi, dễ đi hơn nhưng hơi xa. (Chúng tôi đi con đường sau nầy). Khi đến khúc quanh gần con đường cũ thì Mục sư Hà Kar chỉ cho chúng tôi xem con đường đầy nguy hiểm ấy. Chúng tôi thật cảm phục cho lòng hi sinh của ông bà Mục sư Hà Kar.

Cuộc họp tại đây rất đông người có cả người chưa tin mà Mục sư Ha Kar mời họ đến. Buổi nhóm có hơn 400 người, phải chia ra 3 chỗ cho 3 thành phần khác nhau. Người lớn tuổi và người già thì nhóm trong nhà thờ, thanh niên nhóm lộ thiên, các em thiếu nhi nhóm trong một nhà khác. Khi nhóm bồi linh và truyền giảng tại đây 3 ngày, 4 đêm thì có 5 người tin Chúa! Những người nầy thuộc chi phái Rơ-glai. Người đã dẫn họ đến nghe giảng là một thầy phù thủy, tên La Yoan. Ông làm thầy phù thủy mà các con ông chết hết (7 đứa). Sau khi nghe các Mục sư làm chứng về quyền năng cứu chuộc của Chúa Giê-xu, ông bằng lòng tin Ngài, bỏ tất cả đồ dùng để cúng ma quỷ, nhứt quyết theo Chúa và rất có đức tin nơi Ngài. Ông đi đâu cũng làm chứng về Chúa, gặp ai ông cũng nói về Chúa cho họ nghe, nhờ đó nên có nhiều người tin Chúa. Ông liền mời Mục sư Ha Ðời C đến quản nhiệm Hội thánh. Còn ông sau khi tin Chúa vợ ông sanh con không bị chết nữa! Tạ ơn Chúa….

Chúng tôi ở lại Hội Thánh Ðạ Tơrbor 3 ngày, 3 đêm, cũng vào vài làng khác thăm viếng rồi trở lại Ðạ Tơrbor để chuẩn bị xuống núi, sẽ đi bè đến Nha Trang. Từ Hội Thánh Ðạ Tơrbor chúng tôi phải đi hai ngày nữa mới qua khỏi những núi cao trùng điệp. Khi đến một chỗ kia là một khu rừng rậm trước mặt thì núi cao và dốc đứng mọi người đều phải nắm những rễ cây đi từ bước một leo lên. Phần tôi thì Mục sư Ha Kar cầm cây gậy thòng xuống, tôi nắm lấy cây gậy rồi ông kéo tôi lên, có một anh em ở phía sau đẩy tôi lên. Còn nhà tôi thì cũng có vài anh em giúp đỡ kéo lên. Nhưng khi nhà tôi lên được trên núi thì mệt quá, mắt đổ hào quang, bà phải nằm xuống đất chừng 20 phút mới khỏe lại, và cũng từ đó nhà tôi bị yếu tim, hay hồi hộp. Cám ơn Chúa không có ai bị nguy hiểm gì. Nhưng khi đến trên chót núi rồi mới thấy phong cảnh thật là đẹp! Trên núi toàn là cát trắng, có những hàng cây thông rất xanh tươi đều đặn dường như có ai chăm sóc, sửa sang như một vườn thông có chủ. Cũng có các loại cây khác rất đẹp, những hoa lan rừng mà bên Mỹ rất đắt tiền thì trên chót núi nầy lại nhiều vô số. Họ bẻ và ôm cả ôm xuống núi. Một Giáo sĩ mới đi rừng lần đầu tiên ông thấy các loại hoa lan ông nói rằng: “Bên Mỹ một cánh lan là một đô-la!” Thật Chúa dựng nên mọi vật rất đẹp. Ðối với người Thượng, họ không cần mua một xu nào cũng có rất nhiều thứ mà ở các nước văn minh xem là quý giá. Ðoàn ở nơi đây chừng vài tiếng đồng hồ thì phải đi nữa, phải qua bên kia núi mới đến bờ suối.

Ðoàn đi gần nửa ngày mới đến chơn núi. Khi xuống đến nơi thấy có dòng suối chảy xuống Nha Trang, nước trong vắt, dòm thấy cá lội nhởn nhơ trong dòng suối. Ðến nơi chúng tôi đã thấy 9 chiếc bè kết bằng tre để sẵn từ bao giờ. Mỗi chiếc bè chừng 40 cây tre lớn và dài, kết thật chắc bằng dây mây. Chúng tôi chia nhau xuống bè, mỗi bè 4 người với đồ đạc và 2 người chống bè. Những người nầy phải là người thạo việc đi đường thủy, nếu không biết cách, không biết đường thì dễ chết như chơi. Họ phải là người có kinh nghiệm lâu năm trong việc nầy, vì phải qua gành, qua thác biết nơi nào nguy hiểm để tránh. Họ giống như tài xế xe hơi vậy. Từ trên núi xuống Nha Trang phải mất 2 ngày đường, ngủ một đêm dựa bên mé suối lại phải qua 13 thác nước, có chỗ thấp thì bè qua dễ, nhưng với những thác cao độ hai thước rưỡi tây thì thật là nguy, vì bè ở ngay dòng nước chảy xiết vọt mạnh xuống, chiếc bè chìm lĩm, người ngồi trên bè cũng chìm xuống nước đến cổ nên phải nắm thật chặt vào hai bên bè, để khi chiếc bè chìm sâu dưới nước sẽ không văng ra khỏi bè, nếu bị văng ra thì sẽ bị va đầu vào đá chết, đã có vài người chết cách thê thảm như vậy rồi, nên anh em căn dặn chúng tôi rất kỹ. Ðồ đạc phải cột thật chặt vào bè, hầu khi bè bị chìm sâu dưới thác sẽ không bị dòng nước cuốn trôi. Kể ra đi bè như vậy rất ngoạn mục mà cũng rất nguy hiểm. Khi bè trôi lâu lâu không thấy thác nước thì buồn, nhưng khi nghe nói sắp đến thác thì lại hồi hộp lo! Dọc đường có mấy người lính đem theo lựu đạn quăng xuống nước, cá chết nhiều họ lặn xuống vớt lên (vì suối trong nên thấy rất rõ). Cá vớt lên nướng ăn rất ngon, nhưng vì nhiều xương nên các cô Giáo sĩ không thích.

Sau 2 ngày một đêm trên “sơn thủy lộ”, đoàn truyền giáo đến Nha Trang Thành (Citadel) vào lúc 4 giờ chiều…Khi về đến Nha Trang, tối hôm ấy chúng tôi chia nhau ngủ tại Cô Nhi Viện Tin Lành, nhà thờ Nha Trang, nhà cụ Mục sư Trần văn Ðệ, nhà Mục sư Trần Trọng Thục. Sáng hôm sau chúng tôi đi xe hơi về Ðà Lạt. Ðó là vòng truyền giáo đầy mạo hiểm, thú vị với những kỷ niệm khó quên và cũng là lần cuối cùng chúng tôi đi vào rừng sâu. Nhớ lại những kỳ đi hầu việc Chúa trong rừng trước kia, cũng có những rủi ro bất ngờ. Có một lần kia chúng tôi đi vào làng xa thăm viếng giảng dạy. Cùng đi với chúng tôi có 2 cụ Giáo sĩ Jackson, Mục sư Truyền giáo Chung Khâm Lộc ở Di Linh được mời lên Ðà Lạt đi rừng để rút kinh nghiệm, dầu ông chưa biết nói tiếng Thượng. Chúng tôi đến làng Pang Pung rồi sau đó sẽ đi làng Tiah Soh. Khi từ giã anh em trong làng cả đoàn lần lượt lên đường. Tôi cỡi một con ngựa trắng có tên là Chop, trên vai đeo 2 máy chụp hình. Con ngựa bước đi thế nào mà thình lình tôi bị té nhào xuống đất, cấn máy chụp hình bên cạnh sường nên có vài cái xương sường bị nứt, đau nhức vô cùng không bước đi được. Phải có 2 người đỡ nhẹ lên lưng ngựa rồi cụ Jacson và Mục sư Ha Klas A vịn hai bên đi thật chậm để ra đường cái đi xe hơi về Bịnh viện. Vào bịnh viện Bác sĩ rọi kiến cho biết có 2 xương sườn bị nứt phải nằm nhà thương một tuần lễ! Vậy tôi phải nằm bịnh viện để chữa trị…

Về việc rủi ro té ngựa thì nhà tôi cũng có kinh nghiệm một lần, cô Evans là cháu bà cụ Jackson cũng bị té, nhưng không bị thương tích gì trầm trọng cả. Lúc nhà tôi có thai đứa gái út được 8 tháng. Lúc đó vào cuối tháng 3 năm 1959. Chúng tôi tổ chức một vòng truyền giáo ngắn, đi gần vì không thể đi xa được nữa. Cũng có cụ Mục sư Trần Xuân Hỉ, ông Trần Xuân Quang (con cụ Hỉ), Giáo sĩ Newman, Mục sư Ha Klas A và vợ chồng tôi cùng một ít anh em người Thượng. Chúng tôi đi thăm làng Thác Trại, gần Nha Trang. Chúng tôi đi một đoàn dài, đến một khúc quanh và lên một cái dốc không cao lắm. Cụ Mục sư Hỉ cỡi ngựa đi trước nhà tôi chừng 10 thước, thình lình con ngựa cụ Hỉ phát chạy lên dốc, tức thì con ngựa của nhà tôi đang cỡi cũng vụt chạy theo lên dốc, vì nhà tôi không ngờ con ngựa chạy như vậy nên không đề phòng vì vậy bị té xuống đất. Ai nấy đều hoảng hốt chạy lại đỡ nhà tôi đứng lên và hỏi thăm lăng xăng. Cám ơn Chúa, nhà tôi không sao cả chỉ bị trầy đầu gối một chút thôi. Chúng tôi cứ tiếp tục lên đường. Hôm sau Giáo sĩ Newman nói đùa một câu: “Tôi tưởng khi hôm bà đã sanh con trong rừng rồi chớ?”

Chưa có bình luận nào cho bài viết này!