Chân Dung Người Phục Vụ Số 1559: Mục Sư Tiến Sĩ Albert Benjamin Simpson

Đăng ngày: 25-10-2015

CDNPV 1559 (600x315)

PTV: Dạ Uyên


Mục Sư Tiến Sĩ Albert Benjamin Simpson

Ông sinh năm 1843 và qua đời năm 1919. Xuất thân từ gia đình yêu mến Chúa, ông được Chúa kêu gọi và quyết định đi học trường Kinh Thánh Knox tại Canada. Sau khi tốt nghiệp năm 1865, ông hầu việc Chúa tại nhiều Hội Thánh ở Canada và New York.

Năm 1885, với khải tượng truyền giảng Tin Lành và đem nhiều người về với Chúa, ông thành lập Hội Truyền giáo. Ngoài ra, ông cũng thành lập trường Kinh Thánh và Hội Liên hiệp Cơ Đốc. Sau đó, cả hai hội hợp nhất lại lấy tên là Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp (Christian and Missionary Alliance) gọi tắt là C&MA.

Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp hoạt động ở 81 quốc gia. Chính Hội đã gởi giáo sĩ Jaffray là người đầu tiên đem Tin Lành đến Việt Nam năm 1911. Kể từ thời điểm nầy, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được hình thành và nhiều người được cứu cả người Kinh lẫn người sắc tộc.

 

Mục sư Tiến sĩ A.B. Simpson sinh ngày 15 tháng 12 năm 1843 tại Bayview, đảo Prince Edward, Canada. Ông xuất thân từ gia đình thuộc tầng lớp trung lưu, yêu mến và kính sợ Chúa. Cha của ông là James Simpson và mẹ là Janet Clark, cả hai gốc Scotland di cư đến Canada. Lúc còn ở Scotland, cha ông đã từng làm thợ đóng tàu và sau đó chuyển sang ngành kinh doanh xuất nhập khẩu. Để tránh thua lỗ trong việc kinh doanh, gia đình ông chuyển đến một trang trại tại Chatham, Ontario, Canada vào năm 1847. Tại đây, cha ông đã trở thành một người nổi bật trong đời sống cộng đồng, một trưởng lão được mọi người trong vùng yêu mến và kính nể.

Simpson lớn lên trong một gia đình lễ giáo có nề nếp. Ông rất thông minh, giàu óc tưởng tượng nhưng cũng rất nhút nhát. Nhờ cách giáo huấn của cha mẹ, ông được học biết về Chúa ngay từ lúc nhỏ và khép mình trong kỷ luật của gia đình. Cha mẹ mong muốn ông tương lai trở thành mục sư. Nhưng lúc đó, ông chưa nhận được sự kêu gọi để bước vào chức vụ, mặc dù thừa hưởng một nền tảng đạo đức tốt từ gia đình. Mỗi sáng ông thường thấy cha mình thức dậy sớm, ngồi bên ngọn đèn chăm chú đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Hình ảnh này đã ghi khắc sâu vào trong tâm trí của Simpson.

Không bao lâu sau, ông được kêu gọi vào chức vụ rao giảng Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu cho người chưa được cứu. Tuy nhiên, trong ông xảy ra một cuộc tranh chiến nội tâm khiến ông phải suy nghĩ và cầu nguyện. Ông thật sự không muốn trở thành Mục sư để làm vui lòng cha mẹ, vâng theo ý muốn của cha mẹ hay vì muốn bắt chước người khác. Nhưng bởi lòng thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời, Ngài có chương trình tốt đẹp cho đời sống ông. Ngài đã mở đường và tạo mọi thuận lợi để ông bước vào chức vụ thánh, nhận lãnh những nhiệm vụ quan trọng Chúa giao.

Sau khi hoàn tất bậc trung học, ông học tiếng Hy-lạp và Hy-bá-lai với một Mục sư hưu trí và học giáo lý với Mục sư của Hội Thánh ông là William Walker. Đồng thời ông đi dạy kèm một thời gian để kiếm tiền học trường Cao đẳng Thần học Knox ở Toronto.

Tại trường Thần học, áp lực của việc học tập quá lớn làm ông bị suy sụp cả tinh thần lẫn thể chất. Lúc đó, ông chỉ mới 14 tuổi. Ông nghĩ rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào. Tâm trí ông luôn tràn ngập ý tưởng bi quan, nghi ngờ, không biết chắc có Chúa hay không và cũng không chắc có sự sống đời đời.

Năm 1858, trong thời gian học tập nghiên cứu tại trường thần học, ông đã có một sự thay đổi quan trọng trong sự hiểu biết về Chúa nhờ đọc quyển “Sự huyền bí thiêng liêng của Phúc Âm” của Walter Marshall. Quyển sách trình bày rõ ràng về những bước cần thiết để tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa, tất cả những việc làm khác đều vô nghĩa. Con người được tha tội do tiếp nhận chỉ một mình Chúa Giê-xu, dựa vào đó để được đầy dẫy Đức Thánh Linh và nhận được một tấm lòng mới. Thật kỳ diệu, ông nhận biết đây chính là khải tượng mà Thánh Linh của Chúa soi sáng cho ông. Ông quì xuống dâng đời sống mình cho Đấng Christ, tức thì sự bình an tràn ngập trong lòng và Lời Chúa trở thành nguồn năng lực và sức sống của ông.

Sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Thần học Knox năm 1865, có hai Hội Thánh mời ông hầu việc Chúa. Thứ nhất là Hội Thánh Dudas ở thành phố Ontario, một Hội Thánh nhỏ ở vùng nông thôn. Thứ hai là Hội Thánh Trưởng Lão Knox ở Hamilton, một Hội Thánh có 1.200 tín hữu lớn thứ hai và có ảnh hưởng nhiều tại Canada. Trong ông lại dấy lên cuộc tranh chiến gay gắt. Ông thiết tha tìm cầu ý Chúa muốn ông chọn nơi nào để hầu việc Ngài. Cuối cùng, Chúa Thánh Linh cảm động ông chọn phục vụ Ngài tại Hội Thánh Knox.

Trong suốt 8 năm ông hầu việc Chúa tại Hội Thánh này, Chúa đã thêm vào Hội Thánh 750 tín hữu mới và Hội Thánh trả hết được số nợ 5.000 trong việc mua đất cất nhà thờ. Có thể nói Mục sư Simpson là người chăn bầy rất thành công trong suốt những nhiệm kỳ tại Hội Thánh Knox.

Tháng 12 năm 1873, ông được kêu gọi đến hầu việc Chúa tại Hội Thánh Trưởng Lão đường Chestnut, thành phố Louisville, tiểu bang Kentucky. Tại đây, các chiến dịch truyền giáo rộng rãi trên toàn thành phố đã làm thay đổi quan điểm của ông trong chức vụ. Các chiến dịch này đem lại cho ông một tầm nhìn mới mẻ về công cuộc rao giảng Phúc Âm. Kể từ đó, sứ mệnh truyền giáo là ưu tiên hàng đầu của ông. Mặc dù nhiều lãnh đạo giáo hội không đồng ý về việc làm của ông, nhưng các tín hữu thấy sự nhiệt tình và gánh nặng của ông về biết bao linh hồn tội nhân đang kêu la ngày đêm mà Đức Chúa Trời cho ông thấy qua các khải tượng, nên họ đã yểm trợ ông trong việc tổ chức một cuộc truyền giảng Tin Lành tại đại sảnh thư viện công cộng. Kết quả là số tín hữu trong Hội Thánh tăng thêm nhiều đến nỗi Hội Thánh phải tìm chỗ xây thêm một nhà thờ lớn hơn với kinh phí lên đến 100.000 USD. Nhà thờ đó có tên là “The Broadway Tabernacle”.

Ngoài ra, ông cũng thành lập các khu vực truyền giáo trong toàn thành phố để những người không thể đủ khả năng đến nhà thờ có được nơi nhóm lại. Ông tiếp tục làm việc quá sức mình đến nỗi cha ông lo lắng cho ông sẽ tự giết mình qua công việc.

Tinh thần truyền giáo của ông lúc nào cũng nóng cháy đến nỗi một đêm nọ, trong giấc chiêm bao ông thấy có hàng triệu người đang vây quanh ông. Trong số đó có người ở một đất nước Trung Hoa xa xôi nào đó cũng đến. Ông biết ngay Chúa muốn ông phải làm một điều gì đó qua sự hiện thấy này. Khi thức dậy, ông liền quỳ gối bên giường và cầu nguyện với Chúa trong nước mắt rằng: “Lạy Chúa, chính con sẽ ra đi rao báo Tin Lành cho mọi người.”

Sau 5 năm, ông cảm thấy mình đã làm xong tất cả những gì có thể làm ở Louisville, ông nhận lời mời đến hầu việc Chúa tại Hội Thánh Trưởng Lão ở đường số 13, New York, năm 1879. Tại đây, ông có cơ hội tìm hiểu và biết có một số đông tín hữu chưa gia nhập giáo hội. Cũng từ trung tâm chiến lược này, một chương trình truyền giáo đã đưa ông lên địa vị lãnh đạo. Từ đó chương trình truyền giáo nầy trở thành phong trào truyền giáo quan trọng nhất ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 20.

Sau khi hướng dẫn khoảng 100 dân nhập cư người Ý đến với Chúa, hội chúng của ông cảm thấy đây là “dị tượng truyền giáo” và những cố gắng giảng Tin Lành của ông không phù hợp với truyền thống của giáo hội thời bấy giờ. Vì vậy họ đề nghị ông tìm một Hội Thánh khác để phục vụ. Năm 1881, sau hai năm tại New York, ông xin từ chức vì tin rằng Đức Chúa Trời kêu gọi ông vào công việc khác.

Sau khi từ chức, ông thành lập một tổ chức riêng nhưng kiên quyết không là một giáo phái mới. Đầu tiên, ông tổ chức các buổi nhóm truyền giảng độc lập tại thành phố New York. Về sau, ông liên kết với các các mục sư và tín hữu từ nhiều hệ phái khác nhau để cùng góp phần trong việc rao giảng Tin Lành cho những người chưa được cứu ở những nơi xa xôi. Như đã nêu, ông không có ý định thành lập một nhóm tín hữu riêng biệt, nhưng đúng hơn là một sự thông công hoặc một sự cam kết ràng buộc các tín hữu hiệp lại với nhau để giúp nhau thực hiện sự cam kết với Chúa.

Năm 1882, ông sáng lập Hội Truyền giáo Tin Lành với 35 người cộng tác. Sau một năm, số người cộng tác tăng lên đến 217. Mỗi tối Chúa Nhật có khoảng 700 thân hữu đến nghe giảng Tin Lành của Chúa Cứu Thế Giê-xu.

Năm 1884, Hội Truyền giáo này đã bắt đầu gởi 5 giáo sĩ đi truyền giáo tại Congo (Phi Châu).

Mục sư Simpson và Hội Truyền Giáo đã giữ đúng tôn chỉ của mình là chỉ truyền giảng để đem nhiều người đến với Chúa. Họ cho rằng việc Đấng Christ tái lâm phụ thuộc vào việc rao giảng Phúc Âm của Chúa trên toàn cầu. Để đạt được điều đó, họ thành lập một trường Kinh Thánh và trường đào tạo các giáo sĩ tại Nyack, Nữu Ước chuyên đào tạo giáo sĩ hải ngoại cũng như cho những ai muốn học để phục vụ tại quê nhà. Mục sư Simpson phục vụ với tư cách là người hướng dẫn. Ông không ngừng cầu nguyện cho những người được sai đi và hướng dẫn công việc của họ trong các cánh đồng truyền giáo.

Năm 1885, Hội Truyền giáo đã đến với những người cùng khổ bị xã hội lãng quên, với phạm nhân trong các nhà tù. Ông đã giúp thành lập hai hội truyền giáo: Hội Liên hiệp Cơ Đốc chuyên khuyến khích, dạy dỗ để đời sống tín hữu được trưởng thành, sâu nhiệm hơn; và Hội Liên hiệp Truyền giáo Tin Lành nhắm vào việc rao giảng Tin Lành cho những nơi đang bị lãng quên trên toàn thế giới.

Dần dần có đến hàng ngàn người gia nhập vào hai Hội này. Ông thấy cần phải kết hợp hai tổ chức này với nhau. Vì vậy, ngày 02.04.1897, hai tổ chức này đã hợp nhất lại thành Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp (Christian and Missionary Alliance, gọi tắt là C&MA).

Trong những năm đầu, C&MA như một hiệp hội phi-giáo-hội của các thành viên từ nhiều hệ phái khác nhau. C&MA không phải là một giáo phái riêng biệt, mà là một nhóm thông công gồm các tín hữu có chung khải tượng và chung một mục đích rao truyền Tin Lành Cứu rỗi.

Ngày nay, C&MA có hơn 18.000 Hội Thánh trên toàn thế giới. Gần 90% ở nước ngoài, tại 81 quốc gia trên khắp các lục địa. Có khoảng 890 nhân viên của C&MA cư trú và phục vụ tại 61 quốc gia. Hàng năm, các Hội Thánh C&MA địa phương tổ chức những cuộc hội thảo về các hoạt động truyền giáo để các giáo sĩ làm chứng lại những gì Đức Chúa Trời đang làm việc tại đất nước mà họ đang phục vụ. Hàng ngàn giáo sĩ người bản xứ và hải ngoại đang chung sức nỗ lực rao truyền ơn cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu trên toàn cầu. Mục sư Simpson cũng xuất bản tạp chí “Tin Lành cho muôn dân”, cơ quan truyền thông chính thức của C&MA để cổ vũ cho công tác truyền giáo trên thế giới.

Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp là tổ chức đã gởi giáo sĩ Jaffray, người tiên phong đem Tin Lành đến Việt Nam vào mùa xuân năm 1911. Bắt đầu từ thời điểm đó, Tin Lành được rao giảng ra trên khắp mọi vùng đất nước Việt Nam, vô số người biết đến Tin Lành, nhiều người được cứu, cả người Kinh và người dân tộc, nhiều nhà thờ đã được dựng lên để thờ phượng Đức Chúa Trời.

Năm 1910, Mục sư Simpson tuy đã yếu sức, nhưng ông vẫn thường đi thăm viếng các Hội Thánh, các cơ sở của Hội Truyền giáo, hiệp chung với các lãnh đạo địa phương để đẩy mạnh công tác của Hội. Ông sốt sắng cầu nguyện, động viên các bạn đồng lao, tín hữu tích cực hơn trong công tác cứu vớt tội nhân. Ông đã tìm mọi cách để đến với những người bị lãng quên và những người chưa được cứu. Đến khi tuổi trên 70, ông không còn đủ sức để đi nhiều nơi như trước nữa.

Ngày 28.10.1919, Mục sư Simpson ngồi ở tư thất trong tình trạng mệt nhọc để tiếp chuyện với giáo sĩ Judge Clark từ Jamaica trở về. Hai người đã cầu thay cho công việc Chúa tại Jamaica và nhất là cho chức vụ của giáo sĩ và bà Heorge H. A. Ucllare đang phục vụ Chúa cách gian khổ tại đó. Sau khi từ giã người bạn đồng lao của mình, ông bị bất tỉnh rồi rơi vào tình trạng hôn mê không hồi phục.

Rạng sáng ngày 29.10.1919, nhà lãnh đạo và cũng là người sáng lập Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên hiệp nghỉ yên trong Chúa. Lễ tiễn đưa ông về cõi vĩnh hằng đã được tổ chức trọng thể, trang nghiêm và cũng thật cảm động tại nhà thờ The Gospel Tebernacle trong sự chứng kiến của hàng trăm Mục sư, Giáo sĩ, tín hữu và nhiều bạn bè. Thi hài ông được an táng trên một ngọn đồi trong khuôn viên của Trường Thần học Nyack.

Các thành viên trong gia đình nhớ lại, những lời cầu nguyện cuối cùng của ông với Chúa là dành cho tất cả các giáo sĩ mà ông đã gởi đi khắp thế giới.

Chưa có bình luận nào cho bài viết này!