8 bài học quý giá từ các môn đồ của Chúa Jêsus
Oneway.vn – Xuyên suốt lịch sử, Ngài đã nhiều lần dùng những con người hết sức bình thường, thậm chí cả những người mang nhiều yếu đuối và thiếu sót, để hoàn thành những mục đích lớn lao của Ngài.

Khi nghe nhắc đến “môn đồ”, có lẽ bạn thường hình dung họ là những con người có đức tin mạnh mẽ, được Đức Chúa Trời quý trọng và xứng đáng hơn chúng ta rất nhiều.
Suy cho cùng, nhiều người trong số họ đã được chính Chúa Jêsus lựa chọn để bước theo Ngài và trở thành những người thân cận nhất với Ngài. Một số người còn được Chúa sai đi từng đôi để chữa lành người bệnh và đuổi quỷ nhân danh Ngài.
Thế nhưng, sự thật là các môn đồ cũng chỉ là những con người bình thường như chúng ta. Điểm khác biệt duy nhất là họ sống cách đây khoảng hai ngàn năm và đã quyết định bước theo Chúa Jêsus, được đồng hành trực tiếp với Ngài trong suốt những năm tháng Ngài thi hành chức vụ trên đất.
Trong tiếng Hy Lạp, từ “môn đồ” là mathētēs, có nghĩa là học trò, người đi theo hoặc người tận tâm học hỏi. Danh xưng ấy không có nghĩa họ vượt trội hơn người khác về bất kỳ phương diện nào. Tuy nhiên, với tư cách là những người đầu tiên bước theo Chúa Jêsus, họ giữ một vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận và truyền đạt những lời dạy của Ngài, đồng thời giúp chúng ta hiểu thêm về con người và bối cảnh lịch sử thời bấy giờ.
Cũng cần phân biệt giữa những môn đồ nói chung, tức những người đi theo Chúa Jêsus, với mười hai môn đồ được Ngài đặc biệt lựa chọn và gọi là “sứ đồ”. Trong nguyên ngữ Hy Lạp, từ “sứ đồ” là apostolos, mang ý nghĩa người đại diện, người đưa tin hoặc người được sai phái.
Dù vậy, chẳng ai trong số họ là người hoàn hảo. Nhiều người đã bộc lộ những yếu đuối và thiếu sót đáng kể. Một trong số đó là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, người đã phản bội Chúa Jêsus để đổi lấy ba mươi miếng bạc, trở thành kẻ phản bội Vương quốc Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể học được rất nhiều điều từ những người nam và người nữ đã bước theo Đấng Christ, cả trong thời gian Ngài thi hành chức vụ trên đất lẫn sau khi Ngài chịu chết và sống lại.
Sau đây là tám bài học quý giá mà chúng ta có thể học được từ các môn đồ của Chúa Jêsus.
1. Đức Chúa Trời sử dụng những con người bình thường
Chúng ta chẳng cần phải trở thành những người phi thường thì mới có thể được Đức Chúa Trời sử dụng. Thật ra, xuyên suốt lịch sử, Ngài đã nhiều lần dùng những con người hết sức bình thường, thậm chí cả những người mang nhiều yếu đuối và thiếu sót, để hoàn thành những mục đích lớn lao của Ngài.
Đức Chúa Trời từng sử dụng Môi-se – người từng tự nhận không có khả năng ăn nói, và Đa-vít, người con trai út trong gia đình, vốn chỉ là một chàng chăn chiên bình thường, để thực hiện những công việc lớn lao. Cũng vậy, Chúa Jêsus đã lựa chọn những người nam bình dị để đồng hành với Ngài. Chẳng hạn, Si-môn Phi-e-rơ, Anh-rê, Gia-cơ và Giăng đều làm nghề đánh cá (Mác 1:16-20).
Ma-thi-ơ là một người thu thuế, nghề nghiệp khiến ông bị xếp vào hàng những người bị khinh ghét nhất trong xã hội thời bấy giờ (Ma-thi-ơ 9:9).
Sau khi Chúa Jêsus sống lại, Phi-e-rơ và Giăng đã mạnh dạn rao giảng Phúc Âm trước Hội đồng Công luận. Các lãnh đạo Do Thái vô cùng kinh ngạc trước sự hiểu biết và lời nói đầy dạn dĩ của hai ông, bởi họ nhận thấy đây chỉ là những người bình thường, không được học hành chính quy (Công Vụ Các Sứ Đồ 4:13).
Đôi khi, chúng ta nghĩ rằng bản thân chưa đủ tốt, chưa đủ tài năng hay chưa có những phẩm chất cần thiết để làm những việc lớn lao cho Đức Chúa Trời. Nhưng hãy nhớ rằng Đức Thánh Linh, Đấng ngự trong lòng mỗi người tin Chúa, có quyền năng sử dụng chúng ta để thực hiện những công việc kỳ diệu, vượt xa khả năng của chính mình.
2. Đức Chúa Trời sử dụng cả những người từng phạm tội nghiêm trọng
Sau-lơ, quê ở Tạt-sơ, từng là một người quyết liệt chống đối những người tin theo Chúa Jêsus. Ông ra sức bắt bớ các Cơ Đốc nhân và thậm chí còn đứng giữ áo cho những kẻ ném đá Ê-tiên đến chết. Ê-tiên chính là người đầu tiên chịu tử đạo vì đức tin nơi Đấng Christ.
Thế nhưng, chính Chúa Jêsus đã kêu gọi Sau-lơ trở thành người đi theo Ngài và bày tỏ chân lý cho ông. Sau cuộc gặp gỡ ấy, cuộc đời Sau-lơ hoàn toàn thay đổi. Ông về sau được biết đến với tên Phao-lô và dành trọn phần đời còn lại để phục vụ Chúa Jêsus.
Ngày nay, ông được biết đến với danh xưng sứ đồ Phao-lô. Ông được cho là trước giả của mười ba sách trong Kinh Thánh, thường được gọi chung là các thư tín của Phao-lô. Ông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập và gây dựng Hội Thánh đầu tiên tại nhiều vùng thuộc Tiểu Á.
Nếu như trong quá khứ, Phao-lô từng chống đối Chúa Jêsus, thì suốt quãng đời còn lại, ông đã dốc hết sức mình để rao truyền Phúc Âm khắp thế gian. Cuối cùng, ông đã chịu tử đạo vì đức tin của mình.
Nhiều người trong chúng ta từng nghĩ rằng mình đã đi quá xa khỏi Đức Chúa Trời, hoặc đã phạm quá nhiều tội lỗi đến mức Ngài sẽ chẳng bao giờ muốn tiếp nhận mình vào Vương quốc của Ngài.
Nhưng chúng ta cần nhớ rằng nếu không có Đức Chúa Trời, chúng ta chẳng là gì cả.
Không một việc lành nào có thể giúp chúng ta tự mình giành được một chỗ trên thiên đàng. Sự cứu rỗi chỉ đến bởi đức tin và ân điển của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta đầu phục ý muốn mình trước Chúa, Ngài có thể sử dụng chúng ta cách mạnh mẽ và kỳ diệu để bày tỏ vinh quang của Ngài. Chúa có thể dùng cả những người đau yếu, những người ích kỷ và những con người từng chìm đắm trong tội lỗi.
3. Các môn đồ có tấm lòng sẵn sàng học hỏi
Là những học trò của Chúa Jêsus, các môn đồ hiểu rõ vai trò của mình. Họ cố gắng bước theo Ngài và học hỏi đường lối của Ngài.
Họ gọi Chúa Jêsus là “Ra-bi”, nghĩa là “Thầy”, và đôi khi dùng danh xưng trang trọng hơn là “Ra-bu-ni”. Qua những cách xưng hô ấy, họ bày tỏ lòng tôn kính đối với Chúa Jêsus, nhìn nhận Ngài là một bậc thầy uyên bác, đáng kính trọng và là Đấng mà họ khao khát được học hỏi.
Quả thật, các môn đồ có tấm lòng ham học hỏi chân thành. Nhiều người đã từ bỏ mọi sự mình có để bước theo Chúa Jêsus. Có những người sẵn sàng ngồi ngoài trời hàng giờ dưới cái nắng gay gắt để lắng nghe Ngài giảng dạy, ngay cả khi chưa biết mình sẽ kiếm đâu ra thức ăn cho bữa kế tiếp.
Mặc dù nhiều lúc chưa hiểu hết ý nghĩa những lời Chúa Jêsus phán dạy, họ vẫn cố gắng học hỏi. Họ mong muốn sống đúng theo điều Ngài dạy và bày tỏ những lời dạy ấy qua đời sống mình.
Điều này đặc biệt được thể hiện rõ nơi các sứ đồ. Khi Chúa Jêsus sai họ đi thi hành chức vụ, có một lần họ đã không thể đuổi quỷ ra khỏi một người bị quỷ ám. Thất bại ấy khiến họ băn khoăn và tìm đến hỏi Chúa nguyên nhân (Ma-thi-ơ 17:19).
Họ muốn hiểu rõ hơn để có thể làm tốt hơn trong những lần sau.
4. Đức Chúa Trời vẫn yêu thương và ban phước cho chúng ta dù chúng ta yếu đuối
Con người chúng ta quả thật có biết bao yếu đuối và thiếu sót!
Kinh Thánh cho thấy Si-môn Phi-e-rơ là người khá bốc đồng và thường hành động vội vàng. Khi thấy Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển, ông là người nhanh chóng bước ra khỏi thuyền để đi trên mặt nước đến cùng Ngài (Ma-thi-ơ 14:22-33).
Và khi những người lính đến bắt Chúa Jêsus trong vườn, Phi-e-rơ đã lập tức rút gươm, chém đứt tai đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm (Ma-thi-ơ 26:47-56).
Thế nhưng chính Chúa Jêsus đã phán với ông: “Con là Phi-e-rơ, Ta sẽ xây dựng Hội Thánh Ta trên đá nầy”. Về sau, Phi-e-rơ giữ một vai trò quan trọng trong Hội Thánh đầu tiên. (Ma-thi-ơ 16:15-20).
Thô-ma cũng thường được gọi là “Thô-ma hay nghi ngờ”, bởi ban đầu ông không tin rằng Chúa Jêsus đã sống lại, vì chính ông chưa tận mắt nhìn thấy Ngài sau sự phục sinh (Giăng 20:24-29).
Thế nhưng, khi tận mắt nhìn thấy Chúa Jêsus phục sinh, mọi nghi ngờ trong lòng Thô-ma đều tan biến. Ông đã bày tỏ đức tin của mình bằng lời tuyên xưng: “Lạy Chúa của con và Đức Chúa Trời con!” (Giăng 20:28)
Về sau, Thô-ma trở thành một giáo sĩ, góp phần truyền bá Phúc Âm của Chúa Jêsus đến nhiều nơi trên thế giới.
Sứ đồ Phao-lô cũng từng phải chịu đựng “cái giằm xóc vào thịt”. Ông đã nhiều lần khẩn thiết cầu xin Đức Chúa Trời cất bỏ nỗi đau ấy. Thế nhưng, Chúa không đáp lời theo cách ông mong đợi. Qua đó, Phao-lô nhận ra rằng Ngài có một mục đích tốt lành khi cho phép ông tiếp tục sống với sự yếu đuối này.
Phao-lô đã thuật lại lời Chúa phán với ông rằng: “Ân điển Ta đầy đủ cho con, vì sức mạnh của Ta trở nên trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Vì vậy, tôi rất vui mừng tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi.” (II Cô-rinh-tô 12:9)
5. Thất bại không đặt chúng ta ngoài sự tha thứ của Chúa
Dù là những con người bất toàn và thường xuyên phạm sai lầm, qua đời sống các môn đồ, chúng ta học được rằng Đức Chúa Trời vẫn luôn yêu thương và sẵn lòng tha thứ hoàn toàn cho chúng ta.
Chẳng hạn, Phi-e-rơ từng quả quyết rằng ông sẽ chẳng bao giờ phản bội Chúa Jêsus. Thế nhưng, ngay trong đêm Chúa bị bắt, ông đã ba lần chối rằng mình không biết Ngài.
Sau đó, Phi-e-rơ vô cùng đau đớn và ăn năn về hành động của mình. Khi Chúa Jêsus sống lại, Ngài đã đặc biệt quan tâm đến Phi-e-rơ, chủ động nối lại mối tương giao với ông và giúp ông biết chắc rằng mình đã được tha thứ.
Phi-e-rơ cũng là một trong những người nhận lãnh Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần. Sau đó, ông đã mạnh dạn rao giảng về Đấng Christ ngay trước những người thuộc dân tộc đã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Trong ngày ấy, có thêm khoảng ba ngàn người tin nhận Chúa.
I Giăng 1:9 bảo đảm với chúng ta rằng: “Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín, công chính sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều bất chính.” (I Giăng 1:9)
Chúa Jêsus cũng phán trong Ma-thi-ơ 6:14: “Nếu các con tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho các con.” (Ma-thi-ơ 6:14)
Qua các môn đồ, chúng ta học được tầm quan trọng của một tấm lòng thật sự ăn năn, biết tha thứ cho người khác và đón nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời.
6. Chúng ta có thể làm những việc kỳ diệu nhờ Đức Thánh Linh ngự trong lòng
Các môn đồ cũng cho chúng ta thấy rằng nhờ quyền năng Đức Chúa Trời, chúng ta có thể làm được những điều vượt quá khả năng của bản thân.
Chúa Jêsus từng phán rằng nếu chúng ta có đức tin chỉ nhỏ bằng một hạt cải, chúng ta có thể bảo một ngọn núi dời đi nơi khác và nó sẽ vâng theo. Ngài khẳng định: “Chẳng có điều gì các con không làm được!” (Ma-thi-ơ 17:20)
Khi Chúa Jêsus sai các sứ đồ đi từng đôi để thi hành chức vụ, Ngài ban cho họ quyền năng siêu nhiên để chữa lành người bệnh và đuổi quỷ (Lu-ca 9:1-6).
Về sau, sau khi Chúa Jêsus sống lại và Đức Thánh Linh giáng trên các môn đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần, họ bắt đầu nói những ngôn ngữ khác nhau và công bố lẽ thật của Phúc Âm, khiến lòng nhiều người được cảm động (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:4-40).
Chúa Jêsus cũng từng dạy các môn đồ rằng khi họ bị bắt bớ, họ không cần phải lo lắng mình sẽ nói gì hay phải trình bày như thế nào. Ngài phán: “Trong giờ đó, những gì phải nói sẽ được ban cho các con. Vì không phải các con tự nói đâu, nhưng Thánh Linh của Cha các con sẽ nói qua các con.” (Ma-thi-ơ 10:19-20)
Xuyên suốt sách Công Vụ Các Sứ Đồ, chúng ta thấy các môn đồ đã bày tỏ rõ ràng quyền năng ấy.
Chẳng hạn, trước khi chịu tử đạo, Ê-tiên đã thực hiện nhiều phép lạ và dấu kỳ giữa dân chúng. Khi các lãnh đạo tìm cách tranh luận với ông, họ hoàn toàn không thể chống lại sự khôn ngoan và lời nói được Đức Thánh Linh ban cho ông.
Kinh Thánh chép: “Nhưng họ không chống nổi lời lẽ khôn ngoan và Thánh Linh là Đấng đã ban cho ông những lời lẽ ấy.” (Công Vụ Các Sứ Đồ 6:10)
Ngày nay cũng vậy, khi chúng ta sống bởi đức tin và đầu phục quyền năng Đức Thánh Linh đang ngự trong lòng, Chúa cũng có thể sử dụng chúng ta để thực hiện những công việc kỳ diệu.
7. Chúng ta có thể hoàn toàn nương cậy nơi Đức Chúa Trời
Qua đời sống các môn đồ, chúng ta còn học được rằng mình luôn có thể nương cậy nơi Đức Chúa Trời.
Chúa Jêsus chưa từng hứa rằng cuộc sống của những người đi theo Ngài sẽ luôn thuận lợi và hoàn hảo. Trái lại, Ngài đã báo trước rằng các môn đồ sẽ phải đối diện với sự thù ghét và bắt bớ vì danh Ngài (Giăng 15:18-20).
Thế nhưng, Chúa Jêsus đã hứa rằng Ngài sẽ luôn ở cùng chúng ta cho đến cuối cùng (Ma-thi-ơ 28:20).
Đây cũng là một bài học quý giá khác từ kinh nghiệm của các môn đồ.
Có lần, khi các môn đồ đang ở trên thuyền, họ nhìn thấy Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển tiến về phía mình. Vì quá kinh hãi, họ tưởng rằng mình đang nhìn thấy một bóng ma (Ma-thi-ơ 14:26).
Nhưng Chúa Jêsus đã trấn an họ, cho họ biết chính Ngài đang đến. Sau đó, Ngài gọi Phi-e-rơ bước ra khỏi thuyền và đi trên mặt nước đến cùng Ngài.
Với lòng nhiệt thành, Phi-e-rơ đã mạnh dạn bước xuống thuyền. Thế nhưng, khi nhìn thấy sóng gió xung quanh, ông bắt đầu sợ hãi và dần chìm xuống nước.
Ông kêu lên: “Chúa ơi, xin cứu con!” (Ma-thi-ơ 14:30)
Chúa Jêsus đã không để mặc Phi-e-rơ chìm xuống. Ngài lập tức đưa tay ra nắm lấy ông và kéo ông lên khỏi mặt nước.
Cũng vậy, ngay cả khi chúng ta nghi ngờ, hoặc có lúc tự ý bước đi theo đường riêng của mình, chúng ta vẫn có thể tin cậy rằng Chúa luôn ở đó khi chúng ta kêu cầu Ngài.
Chúng ta hoàn toàn có thể nương dựa nơi Ngài.
8. Đức Chúa Trời vẫn ở cùng chúng ta trong những lúc chờ đợi
Cuối cùng, các môn đồ nhắc nhở chúng ta rằng ngay cả trong những giai đoạn phải chờ đợi, Đức Chúa Trời vẫn luôn hiện diện và tiếp tục hành động.
Điều này được thể hiện rõ qua câu chuyện xảy ra sau khi Chúa Jêsus chịu đóng đinh trên thập tự giá. Phúc Âm Lu-ca thuật lại rằng có hai môn đồ đang trên đường đến làng Em-ma-út. Họ vừa đi vừa buồn bã trò chuyện về tất cả những biến cố vừa xảy ra.
Chúa Jêsus đã đến gần và cùng đi với họ, nhưng họ không nhận ra Ngài. Trong suốt cuộc hành trình, Chúa bắt đầu giải thích cho họ những lời tiên tri trong Kinh Thánh về Đấng Mê-si-a và sự phục sinh đã được hứa trước.
Sau nhiều giờ đồng hành và trò chuyện với họ, Chúa Jêsus bỗng biến mất khỏi tầm mắt. Lúc ấy, hai môn đồ mới nhận ra rằng chính Chúa đã ở cùng họ trong suốt chặng đường vừa qua.
Ngày nay, chúng ta cũng có thể tin chắc rằng khi mình cầu nguyện, Đức Chúa Trời luôn lắng nghe. Khi chúng ta đau khổ, Ngài vẫn ở bên cạnh.
Ngay cả khi chúng ta chưa thể nhìn thấy bàn tay Chúa đang hành động, chúng ta vẫn có thể tin cậy rằng Ngài luôn hiện diện và đang thực hiện chương trình lớn lao của Ngài theo cách tốt lành nhất.
Chúng ta chưa bao giờ bị Đức Chúa Trời lãng quên.
Hãy luôn ghi nhớ rằng xuyên suốt lịch sử, Đức Chúa Trời đã sử dụng biết bao con người bình thường để thực hiện những công việc phi thường.
Khi chúng ta quyết định bước theo Chúa Jêsus và đầu phục ý muốn của mình trước Ngài, chúng ta cũng có thể tin chắc rằng Chúa sẽ sử dụng đời sống mình để góp phần hoàn thành chương trình vĩ đại và đầy quyền năng của Ngài.
Như lời Kinh Thánh trong Rô-ma 8:28 nhắc nhở: “Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những ai yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho những người được gọi theo ý định của Ngài.” (Rô-ma 8:28)
A-men!
Bài: Jessica Brodie; dịch: Esther Võ
(Nguồn: christianity.com)






bình luận