“Tôi chính là kẻ thù mà Chúa Jêsus bảo bạn phải yêu”
Oneway.vn – Là một người Hồi giáo cực đoan, tôi từng đánh một cậu bé Cơ Đốc và bỏ mặc cậu ấy chờ chết. Nhưng những lời cầu nguyện trung tín của cậu đã dẫn tôi đến với sự cứu rỗi.

Khi tôi 16 tuổi, một học sinh mới tên Zakariya chuyển đến trường. Trên trán cậu có những vết sẹo hình quạt — dấu hiệu cho thấy cậu thuộc bộ tộc Dinka, nhóm nổi dậy thiểu số ở Nam Sudan, nơi có rất nhiều Cơ Đốc nhân.
Kẻ thù của tôi.
Zakariya tử tế với mọi người và luôn đứng đầu lớp. Điều đó khiến tôi càng ghét cậu hơn.
Gia đình tôi là những người Hồi giáo rất sùng đạo và tin rằng Hồi giáo phải giữ vị trí trung tâm trong chính quyền. Nhưng cách chúng tôi thực hành đức tin rất cực đoan. Chúng tôi cầu xin Allah tiêu diệt những ai chống lại mình.
Suốt hai năm, tôi thêm lời cầu xin hủy diệt Zakariya vào giờ cầu nguyện buổi trưa mỗi ngày.
Rồi một đêm, lời cầu nguyện ấy dường như được đáp lại.
Tôi cùng bạn bè trèo lên một cái cây, mang theo súng gắn lưỡi lê, chờ đợi trong bóng tối. Từ xa, một ánh đèn pin tiến lại gần. Đó là Zakariya – người mà chúng tôi biết tối nào cũng đi qua con đường này.
Khi cậu đi ngang dưới gốc cây, chúng tôi lao xuống phục kích. Chúng tôi đánh cậu tàn nhẫn bằng tay và báng súng. Trong cơn điên loạn, tôi đâm cậu liên tiếp bằng lưỡi lê.
“Allahu Akbar,” tôi lẩm bẩm đầy tự hào khi bỏ đi khỏi thân thể đầy máu me của cậu.
Chúng tôi bỏ mặc Zakariya chờ chết. Và cậu không bao giờ quay lại trường nữa.
Tôi sinh ra trong một trong ba gia đình quyền lực nhất Sudan sau thời kỳ độc lập. Cụ cố tôi từng tham gia cuộc nổi dậy Hồi giáo năm 1881 chống lại người Anh. Gia đình tôi góp phần đưa luật Sharia trở thành nền tảng của quốc gia. Cha tôi lãnh đạo quân đội tại Darfur rồi sau đó trở thành thống đốc vùng này.
Là con trai duy nhất, tôi được kỳ vọng sẽ kế thừa di sản ấy.
Khi tôi lên tám, cha đưa tôi đi hơn 800 km về phía bắc Khartoum và bỏ tôi lại tại một trường Hồi giáo trong sa mạc để học kinh Quran. Ông hầu như không giải thích gì và cũng chẳng nói lời tạm biệt.
Tại đó, đầu tôi bị cạo trọc. Tôi mặc áo choàng trắng và đội mũ cầu nguyện mỗi ngày. Mười cậu bé chúng tôi ngồi trong túp lều tranh học thuộc các câu tiếng Ả Rập dưới sự giám sát của một giáo sĩ râu dài.
Tay phải ông cầm kinh Quran. Tay trái cầm roi da để đánh mỗi khi chúng tôi sai.
Tôi nghĩ: Có lẽ Allah cũng giống như vậy.
Tôi khóc liên tục suốt 17 đêm.
Hai năm sau, khi cha đến đón, ông không ôm tôi nhưng tôi thấy sự tự hào trong mắt ông. Tôi đọc thuộc toàn bộ kinh Quran cho gia đình nghe và được thưởng một con lạc đà.
Trong mắt gia đình, tôi giờ đã là đàn ông.
Thay vì chơi bóng đá, tôi tập tháo lắp súng Kalashnikov và diễn tập phục kích kẻ thù. Có lẽ tất cả đều đang chuẩn bị cho Zakariya.
Đến khi tốt nghiệp trung học năm 1989, tôi đã sẵn sàng cho thánh chiến và chết như một người tử đạo. Tôi là đứa con hoàn hảo mà cha mình hằng mong muốn.
Nhưng người tôi ngưỡng mộ nhất không phải cha, mà là chú Khaled — một sĩ quan tình báo Sudan từng du học Anh. Chú từng cải đạo nhiều Cơ Đốc nhân Nam Sudan sang Hồi giáo và bỏ tù những người không chịu từ bỏ đức tin.
Một ngày nọ, chú đến thăm nhà và bất ngờ tuyên bố:
“Tôi không còn là người Hồi giáo nữa. Tôi đã trở thành Cơ Đốc nhân.”
Cả gia đình chết lặng.
Hóa ra trong lúc theo dõi một Hội Thánh Tin Lành ở Khartoum, chú nghe bài giảng về sứ đồ Phao-lô trước khi tin Chúa và tưởng rằng Mục sư đang nói về chính mình. Tức giận, chú chĩa súng vào đầu vị Mục sư, đòi biết vì sao ông biết quá rõ đời sống chú.
Nhưng sau nhiều giờ trò chuyện, chú đã tin Chúa.
Gia đình tôi xem đó là nỗi nhục lớn. Theo truyền thống Hồi giáo, người bỏ đạo phải bị giết. Chúng tôi nhanh chóng quyết định giết chú. Nhưng trước khi kịp làm điều đó, mật vụ đã bắt chú đi.
Hai năm sau, con trai chú Khaled là Fouad – người em họ rất thân với tôi – rơi vào hôn mê vì sốt rét và một bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng. Các bác sĩ bất lực.
Mỗi ngày, sau giờ học ở Đại học Khartoum, tôi đến bệnh viện đọc kinh Quran cho Fouad.
Một buổi chiều, hai người đàn ông lạ bước vào phòng bệnh. Tôi nhận ra họ là người Coptic Ai Cập qua hình xăm cây thập tự trên cổ tay.
Họ nói họ từng thăm chú Khaled trong tù và muốn cầu nguyện cho Fouad.
Tôi nhún vai. Tôi nghĩ lời cầu nguyện của Cơ Đốc nhân vô ích. Nhưng đồng thời lương tâm tôi cũng bị chạm đến: họ đang cầu nguyện cho một cậu bé Hồi giáo, trong khi tôi cả đời chỉ biết cầu xin chống lại Cơ Đốc nhân.
Ngay lúc tôi chuẩn bị đuổi họ đi, sắc mặt Fouad bắt đầu thay đổi.
Mắt cậu mở ra.
Máy móc trong phòng kêu inh ỏi. Các y tá chạy vào. Fouad từ từ giơ tay lên. Sự sống trở lại trong cơ thể cậu.
Cậu nhận ra tôi.
Đó là một phép lạ.
Tối hôm đó, tôi trò chuyện hàng giờ với hai người Coptic. Và trong giờ cầu nguyện rạng sáng hôm sau, lần đầu tiên trong đời, tôi cầu nguyện với Chúa Jêsus.
Tôi xin Ngài thay đổi mình nếu những điều họ nói về Ngài là thật.
Tôi mua một quyển Kinh Thánh và âm thầm đọc mỗi ngày. Hai tháng sau, gia đình bắt đầu nghi ngờ.
Tháng 2 năm 1991, ông nội hỏi thẳng tôi:
“Con đã trở thành giống Khaled rồi sao?”
Tôi khẽ đáp:
“Con là Cơ Đốc nhân.”
Căn phòng im lặng.
Cha tôi đấm vào mặt tôi.
Tôi lấy Kinh Thánh ra. Ông nội đứng dậy bỏ đi. Cha nói:
“Nếu đó là đức tin của con, thì con không còn là con trai của cha nữa.”
Sáng hôm sau, trong khi mẹ và các chị em khóc lóc van xin tôi đổi ý, cha đưa cho tôi một bản cam kết. Tôi ký tên, từ bỏ quyền thừa kế và cả họ của gia đình.
Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy cha khóc.
Sau này tôi mới biết gia đình đã tổ chức tang lễ cho tôi và chôn một chiếc quan tài trống như một cách nói rằng họ không cần phải giết tôi nữa.
Tôi bắt đầu đi nhà thờ, được chịu báp-tem dưới sông Nile và bắt đầu giảng đạo. Điều đó khiến tôi bị bắt và bị cáo buộc phản quốc. Tôi bị giam biệt lập 49 ngày.
Sau nhiều lần bị bắt khác, tôi sang Kenya học thần học, rồi sau đó định cư tại Đức. Tôi lấy họ Eric của một gia đình người Đức đã cưu mang mình.
Ngày nay, tôi là một Giám mục Anh giáo, giúp xây dựng cộng đồng dành cho những người Hồi giáo cải đạo trên khắp thế giới.
Giống như sứ đồ Phao-lô và chú Khaled, tôi từng bắt bớ Cơ Đốc nhân.
Nhưng Chúa Jêsus đã yêu tôi khi tôi còn là kẻ thù của Ngài.
Và năm 2008, Ngài cho tôi thấy tình yêu ấy sâu đến mức nào.
Hôm đó, tôi đang diễn thuyết tại một hội nghị dành cho Mục sư ở Cairo. Sau bài nói chuyện, một người đàn ông chống gậy bước tới. Ông đi khập khiễng, bàn tay bị co quắp và mắt phải bất động như vì chấn thương cũ.
Ông hỏi tôi những câu rất lạ về quê quán và trường học cũ.
Rồi ông nói:
“Anh không nhận ra tôi sao?”
Khi ông nói:
“Tôi là Zakariya.”
Tôi chết lặng.
Ông lấy Kinh Thánh ra và mở trang đầu tiên. Tên tôi nằm ở vị trí đầu tiên trong danh sách.
“Bởi vì anh ghét tôi quá nhiều,” ông nói, “nên tôi luôn cầu nguyện cho anh.”
Bài: Yassir Eric cùng Jayson Casper; Dịch & biên tập: SD
Yassir Eric là Giám mục chủ tọa của giáo phận Ekkios thuộc Hội Thánh Anh giáo, đồng thời là giáo sư về nghiên cứu liên văn hóa và Hồi giáo tại Học viện Truyền giáo Thế giới của Đại học Columbia International University ở Đức.
Jayson Casper là phóng viên phụ trách khu vực Trung Đông của Christianity Today.







bình luận